---o0o---
Chú thích
- S: nguyên tác tiếng Sanskrit của mục từ dạng La-tinh hóa
- P: nguyên tác tiếng Pàli của mục từ dạng La-tinh hóa
- A: tiếng Anh
- H: tiếng Hán
- Ph: tiếng Pháp
- T: tên mục từ bằng tiếng Tây Tạng dạng La-tinh hóa.
- Hâ: các hình thức phiên âm tiếng Việt khác nhau của một mục từ.
- Hd: các hình thức dịch nghĩa khác nhau của một mục từ.
- Td: tân dịch.
- Cd: cựu dịch.
- Đl: đối lại
- x: xem
- Đn: đồng nghĩa.
- Vd: ví dụ
- Gđ: cách gọi đầy đủ của một mục từ.
- Gt: cách gọi giản lược hay vắn tắt của một mục từ.
- Cg: hình thức đồng nghĩa hay tên gọi khác của một mục từ.
- Tên khoa học: tên gọi theo khoa học của một mục từ.
- k. ng.: khẩu ngữ
- X.: xem.
- CĐTĐL: Cảnh Đức Truyền Đăng lục
- CTTNL: Cổ tôn túc ngữ lục
- ĐQMT: Đại quang minh tạng
- DTNL: Duy Tắc ngữ lục
- GTPĐL: Gia Thái Phổ Đăng lục
- HĐNL: Hư Đường ngữ lục
- HSLNMDT: Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du tập
- KTTQTĐL: Kiến trung tịnh quốc tục đăng lục
- LĐHY: Liên Đăng Hội Yếu
- LSPGĐT: Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong
- MANL: Mật Am ngữ lục
- MBTL: Minh Bản Tạp lục
- MGNL: Minh Giác ngữ lục
- NĐHN: Ngũ Đăng Hội Nguyên
- NGCTT: Ngũ Gia Chính Tông Tán
- NHQL: Nguyên Hiền quảng lục
- NLNL: Nguyên Lai ngữ lục
- NTNL: Như Tịnh ngữ lục
- PDNL: Pháp Diễn ngữ lục
- PDNL: Phần Dương ngữ lục
- PKNL: Phạm Kỳ ngữ lục
- PQĐTĐ: Phật Quang Đại Từ Điển
- TBCTT: Tăng Bảo Chính Tục truyện
- TLTBT: Thiền Lâm Tăng Bảo truyện.
- ThQST: Thiền Quan Sách Tiến
- TĐT: Tổ Đường tập
- TCTT: Tống Cao Tăng truyện
- TTĐL: Tục Truyền Đăng lục
- ThMMBTSTL: Thiên Mục Minh Bản Thiền sư tạp lục
- VHVNTH 1989-1995: Văn hóa Việt Nam Tổng Hợp 1989-1995

---o0o---
Danh Từ Phật Học: Ngũ Bộ Luật
----------------------------- Tam Tạng Pháp Số - Cs Lê Hồng Sơn -----------------------------
● 五 部 律 (Phiên Dịch Danh Nghĩa)
Năm bộ luật là Luật Tạng Phật nói ra và chia làm năm. Thế Tôn thành đạo ba tám
năm, quốc vương thành Vương Xá mời thọ trai, Ăn xong, Phật sai La Hầu La rửa bát, vì lỡ tay ông làm vỡ bát thành năm mảnh. Ngày ấy có nhiều Tỳ Kheo bạch Phật rằng : Bát bể năm mảnh, Phật nói: 500 năm đầu, sau khi ta Diệt Độ, có các Tỳ Kheo chia Luật Tạng ra làm năm bộ. Sau Ngài Ưu Ba Cúc Đa, quả nhiên có năm đệ tử, mỗi người giữ lấy một ý kiến, bèn chia Luật Tạng của Phật ra làm năm bộ.
(Tiếng Phạn là La Hầu La, tiếng Hoa là Phú Chướng. Tiếng Phạn là Tỳ Ni, tiếng Hoa là Thiện Trị. Tiếng Phạn là Ưu Ba Cúc Đa, tiếng Hoa là Đại Hộ, Cận Hộ) Một, Đàm Vô Đức Bộ. Cũng gọi là Đàm Ma Cúc Đa, tiếng Phạn là Đàm Vô Đức, tiếng Hoa là Pháp Mật. Mật có nghĩa là che dấu, còn gọi là Pháp Tạng, gọi là Tứ Phần Luật. Kinh Đại Tập nói: Sau khi ta vào Niết Bàn, có các đệ tử, giữ gìn 12 bộ kinh của Như Lai, biên chép, đọc tụng, nói năng điên đảo; vì nói năng điên đảo nên che dấu Pháp Tạng.
(Tứ Phần Luật là pháp Tỳ Kheo, pháp Tỳ Kheo Ni, pháp Thọ Giới, pháp Diệt Tránh)
Hai, Tát Bà Đa Bộ. Tiếng Phạn là Tát Bà Đa, tiếng Hoa là Nhất Thiết Hữu, tức là Thập Tụng Luật. Bộ này cho rằng các pháp thật hữu ba đời. Kinh Đại Tập nói: Sau khi ta Diệt Độ, các đệ tử của ta giữ gìn 12 bộ kinh của Như Lai, lại còn đọc tụng sách vở bên ngoài, có khả năng giỏi nghị luận. Tất cả những vấn đề đặt ra đều được giải quyết. đó là Tát Bà Đa Bộ.
(Thập Tụng là trích ra từ Ưu Ba Ly Thập Phiên Tụng. Ưu Ba Ly là tiếng Phạn, tiếng Hoa là Cận Chấp, vì khi Phật còn là Thái tử ông hay gần gũi hầu hạ).
Ba, Ca Diếp Di Bộ. Tiếng Phạn là Ca Diếp Di, tiếng Hoa là Trọng Không Quán, tức là giải thoát luật)
Kinh Đại Tập nói: Sau khi ta vào Niết Bàn, các đệ tử của ta, thọ trì 12 bộ kinh của Như Lai, nói là không có ngã và không có người nhận (Thọ Giả), chuyển các phiền não giống như thây ma. Đó là Ca Diếp Di Bộ.
(Chuyển các phiền não giống như thây ma là vứt bỏ mê lầm như vứt bỏ thây ma)
Bốn, Di Sa Tắc Bộ. Tiếng Phạn là Di Sa Tắc, tiếng Hoa là Bất Trước Hữu Vô Quán, tức là Ngũ Phần Luật. Kinh Đại Tập nói: Sau khi ta vào Niết Bàn, các đệ tử của ta, thọ trì 12 bộ kinh của Như Lai, không làm các tướng đất, nước, gió, lửa và tướng hư không thức. Đó là Di Sa Tắc Bộ.
(Ngũ Phần Luật là Tỳ Kheo Giới, Tỳ Kheo Ni Giới, Thọ Giới Pháp, Diệt Tránh Pháp, Tăng Pháp).
Năm, Bà Sa Phú La Bộ Tiếng Phạn là Bà Sa Phú La, tiếng Hoa là Độc Tử. Vì ngày xưa có ông Tiên nhuộm mình cho thành con trâu nghé, từ đó về sau dòng họ đều gọi là Độc Tử. Bộ này cho rằng ngã chẳng phải là ngũ uẩn, cũng chẳng xa lìa ngũ uẩn mới có thật ngã. Luật này không đến Trung hoa.
Kinh Đại Tập nói: Sau khi ta vào Niết Bàn, các đệ tử của ta, thọ trì 12 bộ kinh của Như Lai, đều nói có ngã, không nói tướng không. Đó là Bà Sa Phú La Bộ.
Ngài Nam Tuyền chém mèo có coi là lậu tận giới không?     Có phương pháp nào áp dụng cho cuộc sống hằng ngày được thoải mái hơn?     Nếu cái nghiệp tham nổi lên thì mình quán tất cả đều là vô thường có được không?     Mở miệng nói đến tâm thì có cái ta rồi phải không?     Phương pháp nào để tham thiền dễ dàng?     Tudien-index     Test Từ Điển     Giúp người thì có kiến thức phải không?     Nếu có tâm lo mất thì tâm loạn chứ đâu tịnh phải không?     Làm thế nào cho tham, sân, si giảm bớt?     


Hình tu sĩ:
Thông tin:

Chưa có




















Pháp Ngữ
Ai mà chế ngự sáu căn
Như người cưỡi ngựa muôn phần giỏi giang
Ngựa đi thuần thục dễ dàng,
Không còn kiêu ngạo, hết vương não phiền
Chư thiên ái mộ vô biên.


Tháng Năm  

 



Đăng nhập


Playist


Bạn cần đăng nhập

Tu sĩ Việt Nam



Tu sĩ Quốc Tế


Album mới







Website có tất cả 68,578 pháp âm và 6,138 album thuộc tất cả các thể loại.
Có tổng cộng 137,020 lượt nghe.
Tổng số tu sĩ trong website 264, gồm cả tu sĩ trong nước và cả quốc tế.
Hiện đang có 1,252 thành viên đã đăng ký. Chào mừng thành viên mới nhất Đại duong
Lượt truy cập 12,103,916